Oops! It appears that you have disabled your Javascript. In order for you to see this page as it is meant to appear, we ask that you please re-enable your Javascript!
Home » Tổng Hợp » Người có căn âm và Biểu hiện của người có căn đồng

Người có căn âm và Biểu hiện của người có căn đồng

Chúng ta hay nghe mọi người đề cập đến vấn đề căn đồng, những người căn đồng (căn quả, căn số). Vậy bản chất căn đồng là gì? Người có căn là gì. Tìm hiểu thêm người có căn âm , cách xem căn số , cách soi căn, căn tư phủ là gì….

Căn là gì? Biểu hiện của người có căn đồng
Căn là gì? Biểu hiện của người có căn đồng
  • Liệu có phải như dân gian đồn thổi, họ là những người được thánh thần ban phước, lựa chọn để hô mưa gọi gió hay không? Biểu hiện nào cho thấy một người có căn đồng?
  • Thanh đồng Nguyễn Thị Nhung, sinh năm 1991, nữ y tá tại bệnh viện Gia Lộc, Hải Dương. Cô gái này tới với nhà thánh trước hết là từ chữ “duyên” sau đó là “phúc” và theo cô, cơ bản là do bản thân cô là người có căn đồng.
  • Một số quan điểm cho rằng, hiểu theo đúng nghĩa của từ thì “căn” là gốc rễ, nguyên nhân, căn nguyên của một sự vật, hiện tượng nào đó còn “đồng” mang nghĩa là sự trong sáng, ngây thơ, như một đứa trẻ không tì vết. Lại có tài liệu chỉ ra rằng “đồng” ở đây là viết tắt của từ “công đồng” nghĩa là ám chỉ triều phục của các quan trong nghi lễ chứ không liên quan tới “nhi đồng”. Cũng từ những khái niệm này mà trong dân gian có nhiều cách lý giải khác nhau.
  • Một số người cho rằng, người có căn đồng là những người có nghiệp duyên, nghiệp chướng hay dễ hiểu hơn là mang trong mình những tội lỗi đã gây ra từ kiếp trước hoặc kiếp này. Tới khi vận đến, những người này phải chịu hậu quả, phải đón nhận kết quả xấu do chính mình tạo ra, phải chịu kiếp khổ sở. Những người đó may mắn được các Thánh đức đoái thương, cứu vớt và chấm chọn để thay mặt Thánh làm việc cứu độ thế gian, ban phúc, làm việc thiện bằng nhiều cách để chuộc lại lỗi lầm của bản thân cũng như có cơ hội an nhiên, thanh thản sau khi thoát sinh. Và chính vì vậy những người có căn đồng giống như một đứa trẻ được các Thánh dẫn dắt đi theo lí trí, lẽ phải, được thanh tẩy tâm hồn, thể xác, biến đổi cuộc sống, chuộc lại lỗi lầm.
  • Theo tín ngưỡng thờ Mẫu (còn gọi là đạo Mẫu hay đạo Thánh Tứ phủ) người có căn đồng là người sinh ra ở dương thế nhưng có số hệ thiên cung, mệnh càn bóng quế hay là con của cửa Tứ phủ công đồng. Cũng giống như quan niệm của dân gian, tín ngưỡng thờ Tứ phủ cho rằng, người có căn đồng là người được các Thánh chấm, tùy theo căn số của từng người mà sẽ được Thánh bắt đi lính hầu đồng hay không.
  • Người có căn đồng thực chất là người có năng lực cảm thụ tâm linh lớn. Họ có thể xuất thân từ nhiều thành phần trong xã hội và có chung một số những biểu hiện nhất định như cuộc sống thường gặp nhiều trắc trở, luôn có cảm giác mình có người che chở, bảo vệ, có cảm xúc đặc biệt khi tham dự những buổi hầu đồng hay
    các nghi lễ liên quan

Biểu hiện của người có căn đồng là gì

  • Những người có căn đồng thường có những biểu hiện khác nhau, tùy thuộc vào mức độ căn số của từng người nặng hay nhẹ nhưng hầu hết là những người có cảm thụ tâm linh lớn. Một số những biểu hiện thường thấy ở người có căn đồng như sau:
  • Người có căn đồng đôi khi có ảo giác, nằm mơ thấy đức Mẹ hoặc Tiên Thánh thần, có cảm giác có Thánh thần bên cạnh mình, ủng hộ và che chở cho bản thân.
  • Người có căn đồng khi tham gia các buổi hầu đồng, hầu Thánh, họ thường thấy tâm hồn lâng lâng, bay bổng, tinh thần phấn chấn và cảm nhận được sự đồng cảm qua những lời hát văn, lời tấu, lời thỉnh. Ở mức độ nặng hơn, họ có những hành động, cử chỉ và lời nói trong vô thức. Mặc dù vẫn nhận biết rõ mọi vật xung quanh nhưng không tự chủ được. Cái này còn gọi là sát căn, nghĩa là khả năng hấp thu tâm linh lớn.
  • Một số người có căn đồng bị hành khiến cho gia đình bất an, tán gia bại sản. Cuộc sống xảy ra nhiều chuyện bất hòa, lao đao. Bản thân luôn bất an, ngày đêm lo lắng mà không rõ nguyên do, chỉ luôn thấy cảm giác bất ổn thường trực và lo sợ chuyện không hay xảy đến với mình.
  • Có người nghiệp duyên nặng nề dẫn tới tâm hồn hoảng loạn, có thể bị điên, ăn nói lung tung, hay nói chuyện Thánh thần nhưng đôi lúc lại hoàn toàn bình thường.
  • Có những căn đồng bị hành bệnh, giống như giả vờ, khi đưa đi chữa trị thì lại bình thường như không hề có chuyện gì xảy ra.
  • Có những người không bị hành bệnh, không có biểu hiện gì khác thường nhưng trong thâm tâm lại cảm thấy không ổn, nôn nao, bồn chồn không rõ nguyên nhân, luôn có lực nào đó thúc đẩy họ đến cầu Mẫu, xin Thánh thần.
  • Người có căn đồng có cuộc sống đời thường rất đa dạng, xuất thân từ nhiều thành phần xã hội nhưng đều trải qua thời gian bị hành mới biết đến Thánh đức của mình. Chúng ta cần phải phân biệt rõ giữa hiện tượng khách quan tự nhiên và người có căn số đang trong giai đoạn hành. Ngoài ra, ta cần phải hiểu rằng, người có căn đồng không chỉ đơn giản là nhận lộc Thánh, truyền lệnh Thánh hay hô mưa, gọi gió. Họ cũng phải trải qua nhiều kiếp nạn, phải chịu thử thách để tìm đến con đường chính đạo. Khi xác định được như vậy thì mới không hiểu sai về quan niệm căn đồng và không làm cho tín ngưỡng thờ Mẫu bị biến tướng theo hướng mê tín dị đoan.

Ông Hoàng Mười

  • Ông Hoàng Mười hay còn gọi là Ông Mười Nghệ An. Ông là con của Vua Cha Bát Hải Động Đình, vốn là thiên quan trên Đế Đình, thần tiên trong chốn Đào Nguyên. Theo lệnh ông giáng trần để giúp dân phù đời. Về thân thế của ông khi hạ phàm thì có rất nhiều dị bản
  • Có tài liệu cho rằng Ông là hiện thân của Tướng Quân Nguyễn Xí. Có tài liệu cho rằng Ông là hiện thân của Tướng Lê Khôi, lại có một dị bản khác cho rằng ông chính là Uy Minh Vương Lý Nhật Quang, con trai Vua Lý Thái Tổ.
  • Tín ngưỡng dân gian còn cho rằng, ông Hoàng Mười là hoá thân của các vị Lý Nhật Quang, Lê Khôi, Nguyễn Duy Lặc, Nguyễn Duy Nhân và Nguyễn Xí. Đó là những nhân vật lịch sử có nhiều công trạng của xứ Nghệ.
người có căn âm
người có căn âm

Quan Hoàng Mười là ai

  • Theo nhận định của một số nhà nghiên cứu văn hóa thì giả thuyết ông Hoàng Mười chính là Nguyễn Xí (xuất thân tại xã Nghi Hợp, huyện Nghi Lộc, Nghệ An ngày nay) có sức nặng hơn cả. Bởi xét về lịch sử ngôi đền được xây dựng vào năm 1634, tức cùng thời của Nguyễn Xí. Hơn nữa, Nguyễn Xí lại là quan đại thần, là bậc Khai Quốc Công thần có công phò vua đánh tan giặc Minh xâm lược. Sau khi đánh tan giặc Minh xâm lược, ông được Lê Lợi phân công cai quản đất Nghệ An, Hà Tĩnh. Nguyễn Xí là vị quan phò tá qua 4 đời vua Lê gồm: Lê Thái Tổ, Lê Thái Tông, Lê Hiến Tông và Lê Túc Tông. Khi thiên hạ thái bình, ông lại cùng ăn, cùng ở với dân, giúp bách tính vượt qua khổ ải vươn đến phú quý, hưng thịnh. Xét trên công lao đó, dân chúng chí tôn ông là Thánh Hoàng Mười là điều hiển nhiên và dễ hiểu hơn.
  • Về thần tích Quan Hoàng Mười với hiện thân là tướng Lê Khôi và tướng Nguyễn Xí lại khá giống nhau.

Thần tích Quan Hoàng Mười với hiện thân là tướng Nguyễn Xí:

  • Theo thần tích này, Ông Mười giáng sinh thành Nguyễn Xí, một tướng giỏi dưới thời Vua Lê Thái Tổ, có công giúp vua dẹp giặc Minh, sau được giao cho trấn giữ đất Nghệ An, Hà Tĩnh. Có một lần xảy ra cơn cuồng phong làm đổ hết nhà cửa, ông liền sai quân lên rừng đốn gỗ về làm nhà cho dân, rồi mở kho lương cứu tế. Trong một lần đi thuyền trên sông, đến đoạn chân núi Hồng Lĩnh, thì lại có đợt phong ba nổi lên, nhấn chìm thuyền của ông và ông đã hóa ngay trên sông Lam. Trong khi mọi người đang thương tiếc cử hành tang lễ, thì trời quang đãng, nổi áng mây vàng, bỗng thấy thi thể của ông nổi trên mặt nước nhẹ tựa như không, sắc mặt vẫn hồng hào tươi tắn như người đang nằm ngủ, khi vào đến bờ, đột nhiên đất xung quanh ùn ùn bao bọc, che lấy di quan của ông. Lúc đó trên trời bỗng nổi mây ngũ sắc, kết thành hình xích mã (có bản nói là xích điểu) và có các thiên binh thiên tướng xuống để rước ông về trời.

Thần tích Quan Hoàng Mười với hiện thân của Tướng Lê Khôi:

  • Đây là thần tích được lưu truyền tại Đền Củi: Lê Khôi là một tướng quân rất giỏi của Lê Lợi. Lê Khôi là cháu gọi Lê Lợi bằng chú. Chuyện kể rằng khi ông đánh thắng giặc trở về thì một trận cuồng phong ập vào làm nhiều nhà dân vị đổ nát. Thương dân ông lại cùng binh sỹ lên ngàn chặt tre, gỗ đưa về giúp dân làm nhà. Một lần không may khi bè xuôi sông Lam về đến chân Hồng Lĩnh ở núi Ngũ Mã thì cuồng phong lại ập đến làm vỡ bè, ông gặp nạn. Quân sỹ và dân làng chưa kịp mai táng cho ông thì mối đã đùn đất lên thi hài ông thành mộ. Cảm phục và biết ơn ông, người dân đã lập đền thờ. Ông rất linh thiêng và thường hiển thánh cứu giúp muôn dân.

Đền thờ chính của Ông Hoàng Mười:

  • Hiện có thể coi Ông có hai đền thờ chính là Đền Chợ Củi bên đất Hà Tĩnh và đền Hưng Nguyên bên đất Nghệ An.
  • Theo Trái tim Việt Nam Online thì Đền Củi trước đây là nơi thờ Tam Tòa Thánh Mẫu. Sau này sau khi tướng Lê Khôi mất, Ông Hoàng Mười mới được phối thờ vào đền:
  • ” Trên mặt Tiền ở nhà hạ điện dài 9m, rộng 0,6m của ngôi đền có 4 chữ hán to: “Thánh mẫu linh từ”. Nghiên cứu các tài liệu thành văn và khảo sát thực địa, có thể khẳng định vị thần được thờ chính trong đền Củi là thánh mẫu Liễu Hạnh. Hiện nay chưa tìm được niên đại ra đời của đền Củi. Khi Lê Khôi đến trấn thủ ở Nghệ An đã thấy có ngôi đền này nhưng quy mô còn rất nhỏ và lợp tranh. Sau nhiều lần trùng tu tôn tạo đền mới được lợp ngói. Diện mạo ngôi đền Củi ngày nay, có phong cách kiến trúc đậm đà dấu ấn thời Nguyễn.
  • Để nhớ công ơn ông Lê Khôi, người đưa lại cuộc sống ấm no cho mình nên sau khi ông mất (1446), nhân dân lập bài vị ông đưa vào phối thờ ở đền. Trong đền Củi còn thờ cả Hưng Đạo đại Vương, nhân dân tôn kính gọi là Đức Thánh Trần”.
  • Đền Hưng Nguyên hay còn gọi là Mỏ Hạc Linh Từ nằm ở huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An. Đền được xây dựng năm 1634 từ thời hậu Lê trên diện tích hơn 1 ha. Nhưng sau này trải qua thời gian và chiến tranh, ngôi đền đã trở thành phế tích và hầu như không còn gì. Dân gian quanh vùng còn kể rằng năm 1986. Do mưa lũ do đền bên Mỏ Hạc bị hư hại nặng nên đã gửi đồ tế tự của Ông Mười sang đền Củi. Đến năm 1995, nhà nước mới bắt đầu cho xây dựng lại ngôi đền từ nền đất cũ.
  • Nhân vật chính được thờ tại đền Hưng Nguyên là Thái uý Vị Quốc công Lê Khôi; Phúc Quận công; Thượng Tướng quân Nguyễn Duy Lạc.
  • Điều rất quan trọng và đáng suy ngẫm là đền Ông Hoàng Mười Hưng Nguyên mới là đền lưu giữ đến 21 đạo sắc phong về Quan Hoàng Mười.
  • Như vậy, theo các sắc phong của các triều đại phong kiến thì đền Hưng Nguyên mới là đền chính của Ngài, còn theo tâm thức của người đời thì đền Củi là đền chính của Ngài.
  • Các đạo sắc phong thần được họ Nguyễn làng Xuân Am cất giữ. Có thể do trong số bốn vị thần được thờ ở đây có Ngài Nguyễn Duy Lạc. Ngài Nguyễn Duy Lạc cũng là một tướng tài của Lê Lợi